Nông nghiệp xanh không khoảng cách: Chiến lược chuyển đổi sinh kế nông thôn TP.HCM trong bối cảnh mới

Sau sáp nhập, không gian nông nghiệp TP.HCM có sự đan xen giữa các vùng sản xuất chuyên canh, khu công nghiệp, dịch vụ và dân cư đô thị. Sự giao thoa này đòi hỏi phải thay đổi tư duy đào tạo đồng phục, hướng tới tiếp cận nghề nghiệp và sinh kế theo hướng cá thể hóa, thực tiễn.
ts-pham-thanh-thoi-1792982124.jpg
Tiến sĩ Phạm Thanh Thôi.

Để làm rõ chiến lược này, Tạp chí Doanh nghiệp và Kinh tế xanh đã có buổi trao đổi với Tiến sĩ (TS) Phạm Thanh Thôi, Giảng viên Khoa Công tác xã hội – Nhân học – Xã hội học, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Dân tộc và Phát triển (Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.HCM), thành viên chính tư vấn xây dựng Đề án “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045”.

Phân hóa sinh kế từ thực tiễn 120 địa phương

Phóng viên (P.V): Thưa TS. Phạm Thanh Thôi, qua hơn 3 tháng trực tiếp khảo sát thực tiễn tại cơ sở, TS cảm nhận thế nào về định hướng nghề nông nghiệp xanh trong không gian mới của Thành phố?

TS. Phạm Thanh Thôi: Sau sáp nhập, TP.HCM mở rộng với diện tích tự nhiên 6.772,59 km², bao gồm 168 phường, xã và đặc khu. Bức tranh sinh kế giờ đây vô cùng đa dạng: ruộng vườn xen lẫn khu dân cư, trang trại công nghệ cao kề sát khu công nghiệp và kinh tế biển gắn chặt với du lịch sinh thái. Tư liệu điều tra thực chứng từ 120 xã, phường, đặc khu cho thấy người nông dân không còn bám lấy một nghề duy nhất. Một gia đình có thể vừa canh tác, vừa làm dịch vụ, vừa tham gia thương mại. Do đó, nhu cầu học nghề hiện nay đòi hỏi tính thực chiến và tính thích ứng rất cao, vượt ra khỏi ranh giới của chiếc cuốc và mảnh ruộng truyền thống.

Thực tế tại các địa phương cho thấy sự phân hóa rõ rệt về nhu cầu. Tại vùng ven biển như Long Hải, Cần Giờ, dưới áp lực đô thị hóa và chính sách bảo vệ nguồn lợi thủy sản, người dân không còn mặn mà với các nghề truyền thống năng suất thấp. Thay vào đó, khát vọng của họ là học kỹ thuật nuôi trồng thủy sản tuần hoàn công nghệ cao, tinh chế muối thảo dược OCOP, và đặc biệt là thi lấy chứng chỉ Thuyền trưởng, Máy trưởng để chuyển dịch sang làm du lịch đường thủy an toàn.

Tại xã Bình Lợi (Bình Chánh), người trồng mai không chỉ dừng ở việc học bón phân, mà đòi hỏi kỹ thuật tạo dáng bonsai nghệ thuật, cấy ghép và chiết xuất tinh dầu mai để tạo ra sản phẩm OCOP mang lại giá trị gia tăng cao. Tại Hiệp Phước (Nhà Bè), các lớp học trồng nấm rơm, rau mầm ứng dụng công nghệ cao dẫu được tổ chức bài bản với 30 học viên mỗi lớp nhưng lại đối mặt với bế tắc vì thiếu sự kết nối với doanh nghiệp bao tiêu đầu ra.

Ở khu vực Xuân Thới Sơn, nhu cầu lại chuyển hướng sang cải tiến mẫu mã sản phẩm đan giỏ trạc truyền thống thành quà lưu niệm thời trang phục vụ khách tham quan trải nghiệm. Trong khi đó, tại những vùng chuyên canh quy mô lớn như Phú Giáo hay Châu Đức, điểm nghẽn không nằm ở khâu sản xuất thô mà ở năng lực chế biến sâu, sấy thăng hoa nông sản và ứng dụng công nghệ vi sinh xử lý hàng ngàn tấn chất thải chăn nuôi thành phân bón hữu cơ, tạo vòng lặp kinh tế tuần hoàn. Những minh chứng sinh động này khẳng định rằng nội dung đào tạo phải được thiết kế dựa trên đặc thù sinh kế của từng tọa độ địa lý, thay vì áp đặt một danh mục nghề hành chính cứng nhắc từ trên xuống.

nongnghiep-3-1792982441.jpg
Đoàn công tác của TP.HCM khảo sát tại Đặc khu Côn Đảo.
nongnghiep-2-1792982440.jpg
Đoàn công tác TP.HCM khảo sát tại xã Long Điền.

Tái cấu trúc không gian đào tạo: Từ dàn trải sang 05 vùng sinh thái – kinh tế

P.V: Từ sự phân hóa sâu sắc đó, ông nhận diện bức tranh nhu cầu học nghề của Thành phố sẽ được tái cấu trúc như thế nào để tránh tình trạng phân mảnh nguồn lực?

TS. Phạm Thanh Thôi: Theo định hướng Quy hoạch chung, lãnh thổ Thành phố được chia thành 10 vùng kinh tế vĩ mô. Tuy nhiên, nếu áp dụng rập khuôn trong đào tạo nghề sẽ dẫn đến dàn trải ngân sách và trùng lặp các mô-đun. Do đó, chúng tôi đã nhận diện và tái cấu trúc thành 05 vùng sinh thái – kinh tế đặc thù, dựa trên cấu trúc thổ nhưỡng, tốc độ đô thị hóa, chuỗi giá trị và thị trường lao động.

Thứ nhất, vùng nông nghiệp đô thị và dịch vụ sinh thái: Tại các khu vực đô thị hóa nhanh như Tân Bình, Tân Phú, Thuận An, Bến Cát, quỹ đất nông nghiệp gần như không còn. Nhu cầu học nghề chuyển hẳn sang tối ưu hóa không gian hẹp. Người dân cần học các mô hình như Aquaponics (nuôi cá kết hợp rau thủy canh), kỹ thuật phân loại và ủ rác hữu cơ vi sinh để chăm sóc mảng xanh ban công, chung cư; các dịch vụ như spa chăm sóc thú cưng, hoặc bảo dưỡng cảnh quan khu công nghiệp.

Thứ hai, vùng nông nghiệp đa giá trị gắn với du lịch và làng nghề: Tại các vùng đệm như Bình Lợi, Xuân Thới Sơn, Long Phước, Côn Đảo, người học cần kỹ năng chế tác để nâng tầm sản phẩm bản địa. Đào tạo tại đây sẽ tích hợp kỹ thuật nông nghiệp với nghiệp vụ quản trị homestay, farmstay, ẩm thực và đặc biệt là kỹ năng kể chuyện (storytelling) văn hóa bản địa để phục vụ khách du lịch.

Thứ ba, vùng sản xuất hàng hóa quy mô lớn và nông nghiệp công nghệ cao: Tập trung tại Phú Giáo, Bắc Tân Uyên, Châu Đức. Ưu tiên đào tạo vận hành thiết bị chính xác như máy bay không người lái (drone), cảm biến vi khí hậu (IoT), công nghệ chế biến sâu, bảo quản lạnh và quản trị chuỗi cung ứng logistics nông sản.

Thứ tư, vùng kinh tế biển và sinh thái ven biển: Tại Cần Giờ, Thạnh An, Long Sơn, Long Điền, trọng tâm là chuyển đổi sinh kế bền vững. Đào tạo tập trung vào kỹ thuật nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng ngập mặn kết hợp thị trường tín chỉ Carbon, chế biến hải sản sấy, và cấp chứng chỉ vận hành phương tiện thủy phục vụ du lịch sinh thái biển.

Thứ năm, vùng chuyển đổi sinh kế và tái cơ cấu lao động: Tại các vành đai thu hồi đất phục vụ công nghiệp và cao tốc như Châu Đức, Tân Uyên, Bến Cát. Người lao động bị thu hồi đất cần được đào tạo cấp tốc các nghề kỹ thuật công nghiệp (cơ khí, điện, hàn, xe nâng), xuất khẩu lao động chất lượng cao, và đặc biệt là tư vấn quản trị tài chính cá nhân để quản lý an toàn nguồn vốn đền bù.

Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay không chỉ là nội dung dạy nghề mà còn là phương pháp giảng dạy. Lực lượng lao động nông thôn có sự phân hóa mạnh mẽ. Những nông dân trên 60 tuổi trực tiếp gắn bó với đồng ruộng thường e ngại việc học lý thuyết dài ngày trên hội trường. Họ cần phương thức "Micro-learning", tức là chuyển hóa giáo trình thành các video ngắn từ 1 đến 3 phút, tích hợp mã QR để tra cứu trên điện thoại và chú trọng thực hành trực tiếp tại vườn, chiếm trên 70% thời lượng. Ngược lại, lao động nông nghiệp ngày nay cần được đào tạo chuyên sâu về thương mại điện tử, cách tạo mã QR truy xuất nguồn gốc, lập kịch bản và livestream bán hàng thực chiến để tự quyết định giá bán, không còn phụ thuộc vào thương lái.

nongnghiep-1-1792982440.jpg
Đoàn công tác TP.HCM khảo sát tại phường Bến Cát để nắm rõ các ý kiền đào tạo nghề trong nông nghiệp giai đoạn mới để đề xuất giải pháp cho UBND TP.HCM.

Triết lý "Nông nghiệp xanh không khoảng cách" trong đại đô thị

P.V: Vậy triết lý “Nông nghiệp xanh không khoảng cách” mà Đề án hướng tới mang ý nghĩa cốt lõi gì trong bối cảnh đại đô thị, thưa TS?

TS. Phạm Thanh Thôi: Khái niệm “không khoảng cách” giờ đây không chỉ mang ý nghĩa thu hẹp chênh lệch mức sống, mà còn là sự xóa nhòa ranh giới địa lý giữa đô thị và nông thôn. Một người dân tại lõi đô thị vẫn có thể làm nông nghiệp trên ban công, sân thượng, tạo ra những "vùng đệm xanh" bảo đảm an ninh lương thực thiết yếu cho Thành phố.

Thứ nhất, "không khoảng cách" là xóa bỏ sự đứt gãy giữa đào tạo và thị trường lao động. Giai đoạn 2026-2030, chúng ta chấm dứt quy trình "đào tạo cái đang có" để chuyển sang vận hành nền tảng "Chợ nghề nông thôn" kết hợp với "Hồ sơ kỹ năng số" (Digital Skills Passport). Đây là nơi khớp lệnh trực tiếp giữa cung và cầu dựa trên bản đồ dữ liệu lớn (Big Data). Doanh nghiệp đăng tải đơn đặt hàng nhân lực lên hệ thống, và Nhà nước chỉ xuất ngân sách mở lớp khi đã chắc chắn học viên có nơi thực tập, được cam kết tuyển dụng hoặc bao tiêu sản phẩm thông qua mô hình Đào tạo kép.

Thứ hai, "không khoảng cách" là sự công bằng trong cơ hội tiếp cận chính sách. Một hệ thống nhân văn không thể loại bỏ người nông dân trên 60 tuổi khỏi danh sách cấp chứng chỉ chỉ vì rào cản hành chính về độ tuổi lao động. Chúng ta cần tháo gỡ rào cản này, linh hoạt tổ chức học lưu động ngoài giờ hành chính, tăng định mức hỗ trợ chi phí đi lại, tiền ăn để bù đắp phần ngày công mà người lao động bị gián đoạn khi đến lớp. Đồng thời, Thành phố cần tài trợ phòng livestream nông sản số miễn phí tại các nhà văn hóa xã để người nông dân không bị cản trở bởi chi phí đầu tư thiết bị công nghệ ban đầu.

nongnghiep-5-1792982439.jpg
Xã Dầu Tiếng cần chính sách hỗ trợ đào tạo nghề chất lượng cao trong giai đoạn mới.
nongnghiep-4-1792982439.jpg
Những vùng nông thôn phường Tây Nam cần được tư vấn, đào tạo nghề nhiều hơn cho lao động nông thôn.

P.V: Cuối cùng, TS. có đề xuất gì về định hướng và cơ chế phối hợp để nâng cao hiệu quả đào tạo nghề nông nghiệp trong giai đoạn mới của TP.HCM?

TS. Phạm Thanh Thôi: Phát triển nông nghiệp trong không gian mới đòi hỏi gắn liền sản xuất với việc sử dụng hiệu quả tài nguyên, cải thiện môi trường và nâng cao thu nhập. Đào tạo nghề cần trang bị cho người dân năng lực lựa chọn, tổ chức công việc và phát triển sinh kế phù hợp với điều kiện của mình. Để thực hiện định hướng này, các bên liên quan cần thống nhất trách nhiệm từ việc xác định nhu cầu, xây dựng chương trình cho đến hỗ trợ người học vận dụng tay nghề.

Ở cấp thành phố, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần phát huy vai trò chủ trì trong việc kết nối kế hoạch đào tạo với định hướng sản xuất và nhu cầu cụ thể của từng địa bàn; đồng thời phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo để đảm bảo chất lượng đào tạo. Việc cập nhật danh mục nghề, nội dung thực hành và mức hỗ trợ cần theo sát những thay đổi trong sản xuất. Các cơ quan phụ trách tài chính và việc làm cũng cần tham gia ngay từ khi xây dựng kế hoạch để nguồn lực và thông tin thị trường lao động được kết nối hiệu quả.

UBND các xã, phường, đặc khu giữ vai trò tổ chức tại cơ sở, xác định đầu mối theo dõi và tiếp nhận nhu cầu hỗ trợ sau đào tạo. Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và các tổ chức cộng đồng có lợi thế từ sự gần gũi với người học. Thông qua trao đổi trực tiếp, họ có thể nắm bắt được nhu cầu học tập, khả năng sắp xếp thời gian và các điều kiện cần thiết để người dân vận dụng kỹ năng. Những hiểu biết này, cùng với dữ liệu quản lý, cần trở thành căn cứ để lựa chọn nghề và điều chỉnh chương trình. Người dân cũng cần được khuyến khích đóng góp kinh nghiệm, phản hồi kết quả và tham gia giám sát việc thực hiện cam kết.

Cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm về nội dung, chất lượng giảng dạy và thực hành, đồng thời cần có kế hoạch hướng dẫn người học khi áp dụng vào công việc. Các trường đại học, viện nghiên cứu có thể tham gia thử nghiệm kỹ thuật và đánh giá điều kiện áp dụng trước khi nhân rộng. Việc mời nghệ nhân, nông dân sản xuất giỏi và người có kinh nghiệm nghề nghiệp cùng hướng dẫn thực hành sẽ giúp kết nối kiến thức chuyên môn với những tình huống cụ thể trong sản xuất.

Doanh nghiệp và hợp tác xã cần tham gia ngay từ khâu xây dựng chương trình. Những cam kết về địa điểm thực hành, vật tư, tuyển dụng hoặc tiêu thụ sản phẩm cần được cụ thể hóa bằng thỏa thuận hoặc hợp đồng phù hợp, trong đó nêu rõ điều kiện thực hiện và trách nhiệm của mỗi bên. Đối với các lớp hướng đến việc làm hưởng lương, cần cung cấp thông tin về vị trí tuyển dụng, điều kiện lao động và mức trả công. Đối với các lớp dành cho người tiếp tục sản xuất tại hộ gia đình, cần có phương án hỗ trợ áp dụng kỹ thuật, tổ chức sản xuất và kết nối tiêu thụ.

Nguồn lực đào tạo vì vậy cần tính đến vật tư thực hành, hướng dẫn sau khóa học và điều kiện sử dụng kỹ năng. Với người có nhu cầu đầu tư sản xuất, cần kết nối tư vấn kỹ thuật với hướng dẫn xây dựng phương án kinh doanh, tính toán chi phí và khả năng trả nợ. Ngân hàng Chính sách xã hội cùng các tổ chức liên quan có thể phối hợp hướng dẫn tiếp cận nguồn vốn phù hợp với đối tượng và điều kiện của từng chương trình.

Thước đo quan trọng của đào tạo là những thay đổi trong công việc và đời sống của người học. Sau sáu tháng hoặc một năm, đơn vị phụ trách cần khảo sát lại để tìm hiểu: kỹ thuật đã được vận dụng như thế nào, việc làm có được duy trì, thu nhập sau chi phí thay đổi ra sao? Công sức và thời gian lao động đã được sử dụng hợp lý hơn chưa? Việc tiết kiệm nước, giảm hao hụt, bảo vệ đất và xử lý chất thải có tiến bộ gì? Mỗi hướng đào tạo cần có cách đánh giá phù hợp, đặt kết quả trong tương quan với mùa vụ, giá cả và điều kiện ban đầu.

Thông tin theo dõi cần được cập nhật và chia sẻ giữa các đơn vị để nhu cầu hỗ trợ đến đúng nơi có trách nhiệm giải quyết. Qua đó, doanh nghiệp thực hiện cam kết, các đơn vị đào tạo đồng hành về kỹ thuật, chính quyền và các hội đoàn kết nối nguồn lực. Sự phối hợp có ý nghĩa khi người học biết mình có thể tìm đến ai và nhận được hỗ trợ vào lúc cần thiết.

“Nông nghiệp xanh không khoảng cách”, theo tôi, còn là khả năng người dân tiếp tục học hỏi trong suốt quá trình làm nghề. Khi kinh nghiệm của họ được trân trọng, tri thức mới có điều kiện áp dụng và các quan hệ hợp tác được duy trì, người nông dân sẽ có thêm khả năng lựa chọn công nghệ, thương lượng trong tiêu thụ và chủ động tổ chức sinh kế. Đó cũng là cách để họ thấy rõ vị trí, giá trị đóng góp và tương lai của mình trong một thành phố xanh, đáng sống.

P.V: Xin cảm ơn TS. Phạm Thanh Thôi!

ĐĂNG KÝ HỘI VIÊN