Rừng FSC và bài toán giữ giá trị gỗ ở Thanh Hóa

Hơn 3.700 ha rừng trồng tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Thanh đã được cấp chứng chỉ FSC. Đây là điều kiện để gỗ đáp ứng tốt hơn yêu cầu về nguồn gốc, nhưng để nâng giá trị, vùng nguyên liệu vẫn cần được nối với chế biến, thị trường và một chuỗi tiêu thụ ổn định.
fsc-1-1793111563.jpg
Người dân khai thác keo tại vùng rừng trồng ở Như Thanh, Thanh Hóa.

Có chứng chỉ, gỗ có thêm cơ hội

Ở những vùng đồi thuộc địa bàn huyện Như Thanh (cũ), keo vẫn là cây trồng quen thuộc của người dân. Nhiều năm qua, rừng trồng là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ sống dựa vào đất lâm nghiệp. Trước yêu cầu ngày càng cao của thị trường, người trồng rừng cũng phải thay đổi cách làm. Bên cạnh năng suất, họ ngày càng quan tâm hơn đến nguồn gốc gỗ, quy trình sản xuất và chất lượng rừng. Chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC là một trong những tiêu chuẩn được hướng tới.

Tại Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Thanh, hơn 3.700 ha rừng trồng sản xuất đã được cấp chứng chỉ FSC. Diện tích này được quản lý theo các yêu cầu về bảo vệ môi trường, nguồn nước, đất đai, đa dạng sinh học, quyền lợi của người lao động và kiểm soát nguồn gốc gỗ trong quá trình khai thác.

Theo hồ sơ chứng chỉ, Công ty TNHH Nhiên liệu sinh khối Nghi Sơn (Biomass Fuel Nghi Sơn) là đơn vị đại diện cho nhóm hộ sản xuất nhỏ tại Thanh Hóa. Chứng chỉ FSC-FA/FM/COC-007491 có diện tích chứng nhận 3.700,72 ha, được cấp ngày 24/5/2024 và có hiệu lực đến ngày 28/5/2029. Các sản phẩm được chứng nhận gồm gỗ thô, gỗ tròn từ keo lai và keo tai tượng, với đầu ra FSC 100%.

fsc-4-1793111603.png
Ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Thanh

Với người trồng rừng, giá trị dễ thấy của chứng chỉ là sản phẩm có thêm cơ hội tham gia những chuỗi cung ứng yêu cầu cao về nguồn gốc và tính hợp pháp của gỗ. Đây là yêu cầu ngày càng rõ khi các thị trường lớn siết chặt quy định đối với sản phẩm gỗ nhập khẩu.

Ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Thanh, cho rằng phát triển rừng theo chứng chỉ FSC giúp nâng cao giá trị sản phẩm, tạo thêm cơ hội tăng thu nhập cho người trồng rừng và tiếp cận các thị trường khó tính như EU, Mỹ. Việc quản lý rừng theo tiêu chuẩn cũng góp phần bảo vệ nguồn nước, hạn chế sạt lở, bảo tồn đa dạng sinh học và tạo điều kiện để chủ rừng tiếp cận những cơ hội mới từ thị trường carbon.

Từ Như Thanh, yêu cầu nâng chất lượng rừng đang đặt ra ở nhiều vùng trồng rừng khác của Thanh Hóa. Tỉnh có diện tích rừng và đất lâm nghiệp lớn, trải rộng ở nhiều huyện miền núi và trung du, với hàng chục nghìn hộ dân sống bằng nghề rừng. Việc chuyển từ trồng rừng lấy sản lượng sang quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, nguồn gốc và giá trị gỗ vì thế ngày càng rõ hơn.

Những năm gần đây, tỉnh Thanh Hóa cũng từng bước hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, gắn rừng trồng với chế biến. Biomass Fuel Nghi Sơn là một trường hợp khá rõ. Từ năm 2023, doanh nghiệp đã phối hợp với các đơn vị chuyên môn tổ chức các hoạt động về quản lý rừng bền vững, chứng chỉ rừng và chuỗi cung ứng gỗ hợp pháp. Đến năm 2024, UBND tỉnh phê duyệt phương án phát triển vùng nguyên liệu phục vụ nhà máy sản xuất viên nén và chế biến gỗ công nghệ cao của doanh nghiệp.

Theo Quyết định số 2303/QĐ-UBND ngày 6/6/2024, vùng nguyên liệu được xác định hơn 20.300 ha tại Như Thanh, Như Xuân, Thường Xuân và Lang Chánh. Phương án hướng tới hình thành vùng nguyên liệu ổn định để phục vụ sản xuất viên gỗ nén, gỗ xẻ thanh, ván ép và các sản phẩm chế biến từ gỗ.

Mục tiêu về chứng chỉ quản lý rừng bền vững cũng được đặt ra, với khoảng 4.500 ha trong năm 2024 và hướng tới khoảng 20.000 ha vào năm 2028. Doanh nghiệp được xác định có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ chủ rừng trong việc cấp và duy trì chứng chỉ.

Quy mô vùng nguyên liệu cho thấy FSC đang được đặt trong một chuỗi sản xuất lớn hơn, từ trồng rừng, khai thác đến chế biến và tiêu thụ. Nhưng để chuỗi này vận hành hiệu quả, vẫn còn những điểm nghẽn cần giải quyết.

Vùng nguyên liệu cần đi cùng nhà máy

Với người trồng rừng, đến kỳ khai thác có nơi mua, giá bán hợp lý và đầu ra ổn định mới là điều quan trọng. Với doanh nghiệp, muốn nâng giá trị gỗ phải có vùng nguyên liệu đủ lớn và cơ sở chế biến phù hợp. Đây cũng là bài toán Thanh Hóa đang phải giải quyết.

Theo ông Nguyễn Văn Dũng, Công ty TNHH Nhiên liệu sinh khối Nghi Sơn hiện vẫn chưa có quỹ đất ổn định để xây dựng nhà máy. Trong khi đó, rừng trồng vẫn đến kỳ khai thác theo từng năm. Khi thiếu một đầu mối chế biến đủ lớn, người trồng rừng dễ bị động trong tiêu thụ, nhất là những thời điểm lượng gỗ khai thác tăng.

fsc-2-1793111601.jpg
Người dân chăm sóc keo non, góp phần duy trì chất lượng vùng nguyên liệu rừng trồng.

Điều này cho thấy khoảng cách giữa một vùng nguyên liệu được quy hoạch và một chuỗi sản xuất hoàn chỉnh vẫn còn khá rõ. Quyết định của tỉnh năm 2024 tính toán vùng nguyên liệu có khả năng cung cấp khoảng 554.000 tấn nguyên liệu mỗi năm cho sản xuất viên nén và chế biến gỗ. Phương án cũng đặt mục tiêu khai thác khoảng 4.000 ha rừng mỗi năm và trồng lại khoảng 4.000 ha, chủ yếu đối với rừng keo đến tuổi khai thác.

Nếu khâu chế biến được hình thành tương ứng, giá trị của gỗ sẽ không chỉ nằm ở những chuyến xe chở nguyên liệu ra khỏi vùng rừng. Gỗ có thể được phân loại, chế biến thành viên nén, gỗ xẻ, ván hoặc các sản phẩm khác trước khi đưa ra thị trường. Khi đó, phần giá trị tạo thêm mới có cơ hội ở lại nhiều hơn với doanh nghiệp, người trồng rừng và địa phương.

Đây là bài toán không riêng của Như Thanh. Nhiều vùng trồng rừng trong tỉnh vẫn chủ yếu bán gỗ nguyên liệu, trong khi năng lực chế biến sâu và liên kết tiêu thụ cần tiếp tục được đầu tư. Nếu chỉ dừng ở việc bán gỗ nguyên liệu, lợi thế về diện tích rừng chưa thể chuyển hết thành lợi thế về thu nhập.

Một vấn đề khác cũng đang tác động trực tiếp đến rừng trồng là thiên tai. Thanh Hóa thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn và lũ. Rừng trồng nằm trên những vùng đồi, núi rộng nên mỗi đợt thời tiết cực đoan đều có thể gây thiệt hại. Cây gãy đổ trước tuổi khai thác không chỉ làm mất sản lượng mà còn ảnh hưởng đến kế hoạch nguyên liệu của doanh nghiệp.

fsc-3-1793111602.jpg
Ông Nguyễn Văn Dũng, Giám đốc Ban Quản lý rừng phòng hộ Như Thanh, kiểm tra khu vực trồng keo gỗ lớn.

Đối với rừng gỗ lớn, thiệt hại càng đáng kể. Người dân phải chờ nhiều năm để cây đạt đường kính và chất lượng tốt hơn. Một trận bão mạnh có thể khiến cả chu kỳ đầu tư bị đảo lộn. “Thanh Hóa là địa phương thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, mưa lớn và các loại hình thiên tai khác. Nhiều diện tích rừng trồng, nhất là rừng gỗ lớn, có thể bị gãy đổ khi xảy ra mưa bão, gây thiệt hại cho người trồng rừng và ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu”, ông Dũng nói.

Vì vậy, cùng với việc mở rộng diện tích FSC, việc lựa chọn giống, kỹ thuật trồng, mật độ, đường lâm nghiệp và phương án khai thác cũng cần được tính toán phù hợp với điều kiện thực tế. Rừng gỗ lớn có giá trị cao hơn nhưng thời gian đầu tư dài hơn, đồng nghĩa với việc người trồng rừng phải đối mặt với rủi ro lớn hơn nếu thiên tai xảy ra trước kỳ khai thác.

Thanh Hóa có lợi thế lớn về đất rừng và nguồn nguyên liệu. Nhưng để lợi thế ấy chuyển thành thu nhập tốt hơn cho người dân, cần một chuỗi sản xuất đủ sức giữ lại nhiều giá trị hơn tại địa phương. Chứng chỉ FSC giúp gỗ đáp ứng những yêu cầu cao hơn về nguồn gốc và quản lý rừng, nhưng để giá trị tăng thêm thực sự đến với người trồng rừng, vẫn cần thị trường ổn định, nhà máy phù hợp và liên kết tiêu thụ lâu dài.

Nói cách khác, FSC mới là điều kiện để gỗ bước vào những thị trường có yêu cầu cao. Phần giá trị còn lại phụ thuộc vào khả năng chế biến, tiêu thụ và cách tổ chức cả chuỗi từ rừng đến thị trường.

ĐĂNG KÝ HỘI VIÊN